Khánh Hoà: Lễ Tưởng niệm 710 năm Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn

Nhằm tưởng nhớ công lao và sự nghiệp vĩ đại của Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông, vị Hoàng đế anh minh, anh hùng dân tộc, nhà văn hóa, nhà tu hành chân chính, mẫu mực, Người sáng lập Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử, được các thế hệ nhân dân Việt Nam tôn xưng là Vua Phật.

Sáng ngày 06/12/2018 (30/10/ năm Mậu Tuất), tại chùa Long Sơn, số 20, đường 23/10, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà, Thường trực Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hoà và chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử đã trang nghiêm, long trọng tổ chức lễ Tưởng niệm lần thứ 710 năm của Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn – vị  Sơ tổ Trúc Lâm Việt Nam.

Quang lâm chứng minh có: HT. Thích Quảng Thiện – Thành viên HĐCM GHPGVN, Chứng minh Ban Trị sự (BTS) Phật giáo tỉnh Khánh Hoà; HT. Thích Ngộ Tánh – Uỷ Viên Hội đồng Trị sự (HĐTS), Trưởng BTS Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Khánh Hoà; HT. Thích Minh Thông – Uỷ Viên HĐTS, Phó Trưởng ban Thường trực BTS Phật giáo tỉnh cùng chư Tôn đức Tăng Ni trú trì các tự viện, Tịnh xá, Tịnh thất trong Tp. Nha Trang và Tăng Ni sinh trường Trung cấp Phật học tỉnh Khánh Hoà đồng tham dự.

Toàn cảnh buổi lễ tưởng niệm

Sau phần tuyên bố lý do, HT. Thích Ngộ Tánh – Uỷ Viên HĐTS, Trưởng BTS Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Khánh Hoà cung tuyên tiểu sử của Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông: Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 07/12/1258 (11/11/ năm Mậu Ngọ), con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh. Thân hình Ngài có những đặc điểm khác thường, nhất là có màu vàng, nên được vua cha đặt cho biệt hiệu là Phật kim.

HT. Thích Ngộ Tánh – Uỷ Viên HĐTS, Trưởng BTS Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Khánh Hoà cung tuyên tiểu sử của Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông

Năm 16 tuổi (1274), Ngài được lập làm Đông cung Thái tử và kết duyên cùng công chúa Quyên Thánh, trưởng nữ Hưng Đạo Đại Vương.

Về Phật pháp, Ngài học đạo với Tuệ Trung Thượng Sĩ, được Thượng Sĩ hết lòng hướng dẫn và trao đổi những yếu nghĩa Thiền tông. Ngài tâm đắc nhất là câu: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” (Quan sát lại chính mình đó là bổn phận, không do người khác làm được) và tôn thờ Tuệ Trung Thượng Sĩ làm Thầy. Ngài thường tới lui chùa Tư Phúc trong kinh thành để tụng kinh, tọa thiền, lễ bái Tam bảo.

Năm 21 tuổi (1279), Ngài được Trần Thánh Tông truyền ngôi, trị vì thiên hạ Đại Việt, lấy đức trị vì, dân chúng an cư lạc nghiệp, lấy niên hiệu là Thiệu Bảo. Năm 1284, trước khi cuộc chiến tranh diễn ra, Ngài chủ trì Hội nghị Diên Hồng, lấy ý kiến các vị Bô lão, những người đứng đầu các Bộ lạc. Toàn thể hội nghị già trẻ, gái trai đều một lòng tung hô quyết chiến.

Năm 1285, với tinh thần bảo vệ dân tộc, Tổ quốc của toàn dân, Ngài đã lãnh đạo và chiến thắng cuộc xâm lăng Nguyên – Mông lần thứ nhất. Năm 1288, Cảm hứng trước sự chiến thắng của dân tộc lần thứ 2, Ngài đã làm hai câu thơ lưu lại:

“Xã tắc hai phen chồn ngựa đá

Non sông muôn thuở vững âu vàng” 

(Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu)

Sau khi đất nước thanh bình, dân chúng an cư lạc nghiệp, Ngài đã củng cố triều đình, phủ dụ đoàn kết toàn dân, xây dựng và phát triển đất nước trong thời hậu chiến. Với mục đích chủ hòa, Ngài đã bỏ qua những lỗi lầm đã có của quần thần cũng như thân tộc.

Năm 41 tuổi (1293), Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông lên làm Thái Thượng Hoàng. Năm 1294, Ngài cầm quân sang chinh phạt Ai Lao, giữ yên bờ cõi và làm cho nước Triệu Voi tiếp tục thần phục Đại Việt. Sau khi chinh phạt Ai Lao, Ngài trở về Hành cung Vũ Lâm – Ninh Bình, cầu Quốc sư Huệ Tuệ làm lễ xuất gia, tập sự tu hành tại đây một thời gian.

Năm 1299, Ngài quyết tâm trở lại thăm Kinh sư lần cuối, rồi đi thẳng lên núi Yên Tử – Quảng Ninh quyết chí tu hành, tham thiền nhập định, lấy tên là “Hương Vân Đại Đầu Đà” và độ Đồng Kiên Cương làm đệ tử, ban pháp hiệu là Pháp Loa.

Năm 1301, Ngài hạ sơn, đi thăm hữu nghị đất nước Chiêm Thành và nghiên cứu về tôn giáo, tạo lập mối quan hệ hợp tác, hòa bình, hữu nghị với các nước lân bang. Trở về chùa Phổ Minh, phủ Thiên Trường giảng kinh, thuyết pháp, mở Hội đại thí vô lượng cho nhân dân.

Năm 1304, Ngài chống gậy trúc dạo đi khắp nước Đại Việt, khuyến khích muôn dân giữ năm giới, tu hành Thập thiện, dẹp bỏ những nơi thờ cúng không đúng Chính pháp, loại bỏ những điều mê tín dị đoan v.v…. Năm 1306, Ngài đứng ra chứng minh hôn lễ giữa Công chúa Huyền Trân và Chế Mân – Vua Chiêm Thành.

Năm 1307, Ngài truyền Y Bát lại cho Tôn giả Pháp Loa, lên làm Sơ Tổ Trúc Lâm và Pháp Loa là Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm. Trong thời gian đó, Ngài thường lui tới chùa Báo Ân Siêu Loại, Sùng Nghiêm Hải Duơng, Vĩnh Nghiêm Lạng Giang, chùa Từ Lâm, chùa Quỳnh Lâm Đông Triều để giảng kinh, thuyết pháp và chứng minh các lễ hội…

Sau khi truyền Y Bát cho Tôn giả Pháp Loa, Ngài tập trung biên soạn Kinh sách và Ngữ lục. Qua đó, Ngài đã để lại cho đàn hậu học một số tài liệu vô cùng quý báu như: Trần Nhân Tông thi tập, Đại Hương Hải Ấn thi tập, Tăng Già Toái Sự, Thạch Thất Mỵ Ngữ, Trung hưng Thực Lục, Truyền Đăng Lục v.v….Trước khi nhập diệt, Ngài đã để lại bài kệ Pháp Thân Thường Trụ qua sự trả lời cho thị giả hầu cận bên Ngài là Bảo Sát:

“Tất cả pháp không sanh.

Tất cả pháp không diệt.

Ai hiểu được như vầy.

Thì chư Phật hiện tiền.

Nào có đến có đi”

Ngài xả báo an tường, thâu thần thị tịch ngày 01/11/năm Mậu Thân (1308). Thọ thế 51 năm, tại am Ngọa Vân – Đông Triều – Quảng Ninh. Vua Trần Anh Tông cung thỉnh nhục thân Ngài về kinh đô Thăng Long cử hành Quốc tang trong thời gian hai tuần. Sau đó, Vua quan, quần thần, văn võ bá quan, đệ tử Pháp Loa, Bảo Sát và chúng Tăng trong nước cử hành lễ Trà tỳ.

Sau khi thu nhặt Xá lợi, Xá lợi được chia làm hai phần:

  1. Xây tháp thờ ở Lăng Quý Đức phủ Long Hưng – Thái Bình.
  2. Xây tháp tôn thờ tại chùa Vân Yên – Yên Tử, Quảng Ninh.

Và lấy hiệu là Huệ Quang Kim Tháp, dâng Thánh hiệu: Đại Thánh Trần Triều, Trúc Lâm Đầu Đà, Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Phật Tổ.

Lễ Tưởng niệm 710 năm ngày nhập Niết Bàn của Phật Hoàng Trần Nhân Tông là dịp để Tăng Ni, Phật tử, đồng bào các dân tộc Việt Nam nói chung và Tăng Ni, Phật tử Khánh Hoà nói riêng cần học tập, phát huy tinh thần nhập thế yêu nước của Phật giáo Việt Nam.

Thông qua Lễ Tưởng niệm của Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông, trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, sự nghiệp đại đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo Đại Việt, sự nghiệp tu hành và tư tưởng vĩ đại của Phật giáo Trúc Lâm đã ảnh hưởng sâu rộng đối với nền văn hóa, Phật giáo Việt Nam. Với tư tưởng “Hòa Quang Đồng Trần”, “Cư Trần Lạc Đạo” của thiền phái Trúc Lâm, luôn là kim chỉ nam trong hoạt động lợi đạo ích đời của những người con Phật Việt Nam từ xưa đến nay. Tư tưởng đó đã biến thành phương châm “Đạo pháp -Dân tộc -Chủ nghĩa Xã hội” của Phật giáo Việt Nam hiện nay. Lễ Tưởng niệm khép lại sau phần dâng hương và cảm tạ của Ban tổ chức.

Chư Tôn đức Thường trực Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hoà dâng hương tưởng niệm

Thích Tâm Như – Ban TT-TT Phật giáo Khánh Hoà